Xúc tiến thương mại và sự kiện

Hội thảo “Lao động trong khu vực DN FDI: Thực trạng và giải pháp”

20/06/2018

Đột phá trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, được coi là giải pháp quan trọng nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp FDI, triển khai thành công các dự án đầu tư.

Gắn kết doanh nghiệp với cơ sở đào tạo

Trong khuôn khổ các hoạt động chuẩn bị cho Hội nghị tổng kết 30 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, sáng 19/6/2018, tại Hà Nội. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động,Thương binh và Xã hội cùng tổ chức Hội thảo chuyên đề “Lao động trong khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Thực trạng và giải pháp”. 

Từ khi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành vào tháng 12/1987, sau 30 năm, khu vực kinh tế FDI đã trở thành một bộ phận của nền kinh tế đất nước. Khu vực FDI đã và đang giúp Việt Nam hội nhập với thế giới. Đây là nguồn bổ sung vốn quan trọng, tạo nên giá trị xuất khẩu lớn, đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách nhà nước, nâng cao trình độ công nghệ, tạo sức ép cạnh tranh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế...

Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, khu vực doanh nghiệp có vốn FDI đang tạo việc làm cho hơn 3,6 triệu lao động trực tiếp và khoảng 5-6 triệu lao động gián tiếp. Từ đó, tạo việc làm vàthu nhập ổn định cho một bộ phận không nhỏ lao động. Thông qua sự tham gia trực tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp FDI, một đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân kỹ thuật có trình độ cao, cao tay nghề, từng bước được hình thành và tiếp cận được với khoa học, kỹ thuật, công nghệ cao,  có tác phong công nghiệp hiện đại…

Bên cạnh những tác động tích cực, trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, cạnh tranh thu hút FDI ngày càng gay gắt, việc thu hút FDI thời gian tới đã được Việt Nam xác định phải thu hút những dự án công nghệ cao, thân thiện với môi trường và nhất là chuyển dần thu hút đầu tư nước ngoài với lợi thế giá nhân công rẻ sang cạnh tranh bằng nguồn lực chất lượng cao. 

Để có được nguồn nhân lực chất lượng cao; việc đột phá trong công tác đào tạo được nhiều chuyên gia tham dự Hội thảo đánh giá là quan trọng. Thực trạng cho thấy, chất lượng nguồn nhân lực hiện còn nhiều hạn chế, thiếu hụt lao động tay nghề cao, chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường lao động; khoảng cách giữa giáo dục nghề nghiệp và nhu cầu của thị trường lao động ngày càng lớn. Thống kê của cơ quan chức năng cho thấy, có tới 37%  lao động được tuyển dụng không đáp ứng được công việc, 39,86% doanh nghiệp FDI đang thiếu hụt lao động; nhiều công ty phải mất 1-2 năm đào tạo lại lực lượng lao động…

Nhằm giải quyết vướng mắc trên, việc thúc đẩy mối liên kết giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo, được nhiều chuyên gia coi là cấp bách. Thời gian tới, các chuyên gia cho rằng cần làm rõ về nội dung,cơ chế liên kết giữa hai bên; cần có đột phá trong giáo dục nghề nghiệp, hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động.

Đặc biệt, liên quan đến việc thiết kế các nội dung chương trình đạo tạo, nhà đầu tư đến thực hiện dự án tại một địa phương họ quan tâm đến nhiều nội dung, trong đónguồn nhân lực phải được đáp ứng theo đúng yêu cầu của họ. Tại nhiều địa phương, tuy đã có hệ thống các trường dạy nghề, nhưng ngành nghề đào tạo còn chưa sát với vị trí tuyển dụng của doanh nghiệp FDI.  Ví dụ, qua khảo sát cho thấy nhiều trường mới đang tập trung đào tạo việc phục vụ dân sinh, như các ngành nghề lái xe, sửa chữa điều hoà…; nhưng ở lĩnh vực cơ khí phục vụ phát triển công nghiệp, cần lao động có tay nghề cao về hàn,sơn; các trường lại không  chú trọng đào tạo. Điều đó dẫn đến bị động trong việc cung ứng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp FDI. Vì vậy, theo Thứ trưởng các cấp quản lý và chính quyền địa phương cần nghiên cứu kỹ lưỡng, đưa ra các chính sách đột phá trong đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Đồng thời, cần nâng cao cho người lao động tính sẵn sàng trong việc tiếp thu kiến thức mới trong bối cảnh cuộc cách mạng côngnghệ 4.0 đang được hiện thực hoá ở Việt Nam. 

Để đẩy mạnh việc gắn kết doanh nghiệp và cơ sở đào tạo, nhiều chuyên gia phân tích, cả hai phía cần tích cực phát huy vai trò của mình, các cơ sở đào tạo phải chủ động dự báo nhu cầu thông tin về thị trường lao động gắn với cách mạng công nghiệp 4.0; trong đó có xu hướng thu hút đầu tư nước ngoài (những lĩnh vực, công nghệ như thế nào…), từ đó xây dựng chính xác số lượng, dạng loại lao động cần thiết của doanh nghiệp, để tính toán được qui mô, giáo trình đào tạo hợp lý. Phía doanh nghiệp cũng cần tạo điều kiện hỗ trợ cơ sở hạ tầng đào tạo cho các trường liên kết, thúc đẩy các Biên bản ghi nhớ hợp tác về  hợp tác đào tạo…

Mới đây, mô hình kết hợp giữa Đại học Bách khoa Hà Nội và Công ty VanLaack Việt Nam, hợp tác ứng dụng hệ thống đào tạo đại học song hành trong chương trình giảng dạy cho sinh viên…được  đánh giá cao, coi là dựán đặc biệt, bởi sinh viên được thực hành tại doanh nghiệp ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường…

Ngoài ra, vai trò hỗ trợ từ  phía các địa phương để thúc đẩy hợp tác giữa doanhnghiệp và cơ sở đào tạo; qua các chính sách, ưu đãi cụ thể về đất đai, thuế… nhằm xây dựng các vườn ươm doanh nghiệp, khu công nghệ cao,…cũng được coi là cần thiết,góp phần tạo được những nguồn được nguồn nhân lực chất lượng cao.

Áp lực nâng cao năng suất lao động

Tiến sỹ Lê Văn Hùng, Viện Kinh tế Việt Nam cho biết, vốn FDI có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng năng suất lao động (NSLĐ) của nước nhận đầu tư. Ở khía cạnh tác động trực tiếp, vốn FDI giúp dịch chuyển cơ cấu lao động trong nước từ nhóm ngành có năng suất lao động thấp sang nhóm ngành có NSLĐ cao hơn. Bên cạnh đó, các nước nhận đầu tư kỳ vọng rằng, các doanh nghiệp FDI với lợi thế về công nghệ, về thị trường, quản lý sẽ có mức NSLĐ cao hơn so với khu vực ở trong nước.

Ở khía cạnh tác động gián tiếp, vốn FDI tạo ra hiệu ứng tràn về công nghệ và kỹ năng đối với khu vực nội địa thông qua liên kết sản xuất giữa 2 khu vực. Hơn nữa, sự hiện diện của khu vực FDI làm gia tăng áp lực cạnh tranh buộc các doanh nghiệp nội địa cải tiến của họ. Từ đó, khu vực FDI sẽ tạo ra hiệu ứng tràn cho khu vực nội địa và gián tiếp cải thiện NSLĐ chung. Ông Hùng cũng cho biết, tăng trưởng NSLĐ của Việt Nam dần được cải thiện và đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, đặc biệt giai đoạn 2014-2016 đạt bình quân 5,5%/năm. 

Giữa các thành phần kinh tế, khu vực FDI luôn có NSLĐ tuyệt đối cao nhất so với khu vực nhà nước, đặc biệt khi so sánh với khu vực ngoài nhà nước. Yếu tố chính dẫn đến kết quả chênh lệnh này do khu vực FDI tập trung chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp chế biến trong khi khu vực nội địa lao động vẫn tập trung chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và khu vực phi chính thức, những ngành có năng suất lao động tuyệt đối thấp. 

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng cho biết, thu hút FDI thời gian tới được xác định phải chuyển đổi theo hướng từ thu hút số lượng sang chất lượng, chuyển dần thu hút với lợi thế giá nhân công rẻ sang cạnh tranh bằng nguồn lực chất lượng cao. Bộ đang rà soát, đánh giá toàn diện thực trạng tình hình lao động của khu vực doanh nghiệp FDI để từ đó đề ra những giải pháp phù hợp, có tính đột phá nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của lao động. Từ đó tận dụng tối đa dòng vốn FDI thế giới đang có xu hướng đổ về các nước châu Á, trong đó có Việt Nam.

Chuyên gia Ngân hàng Thế giới Obert Pimhidzai đánh giá, NSLĐ là yếu tố chủ chốt cho sự tăng trưởng và phá ttriển kinh tế. Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 lan tỏa nhanh chóng,tiến trình mở cửa hội nhập của Việt Nam đang ngày càng sâu rộng là cơ hội để Việt Nam tăng NSLĐ nhưng sẽ rất khó thành hiện thực nếu ngay từ bây giờ không có những chính sách đồng bộ nhằm cải thiện chất lượng giáo dục, nâng cao chất lượng lao động đáp ứng nhu cầu của thời đại.

Để nâng cao hiệu quả NSLĐ từ khu vực doanh nghiệp FDI, TS Lê Văn Hùng khuyến nghị, ngay từ khâu thu hút FDI,cần gắn chặt với chiến lược phát triển quốc gia, chỉ tập trung ưu tiên thu hútmột số ngành, lĩnh vực có lợi thế so sánh theo từng vùng. Đồng thời chủ động trong đào tạo bồi dưỡng lực lượng lao động, đáp ứng nhu cầu DN và đặc biệt là trong các lĩnh vực Việt Nam đang hướng tới thu hút đầu tư.

Tóm lại, cần rà soát, đánh giá toàn diện thực trạng tình hình lao động của khu vực doanh nghiệp FDI thời gian qua về kết quả đạt được, hạn chế, yếu kém và nguyên nhân để từ đó đề ra những giải pháp phù hợp, có tính đột phá nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của lao động trong khu vực FDI, tận dụng tối đa dòng vốn FDI thế giới đang có xu hướng đổ về các nước châu Á; trong đó có Việt Nam.