Thương mại - Công nghiệp

Thị trường Pháp trong tháng 01⁄2021 và Dự báo

29/01/2021

Một số thông tin về thị trường Pháp

Tình hình kinh tế Pháp trong tháng 1/2021 

Trong năm 2020, Pháp nói riêng và các quốc gia khác trên thế giới đều bị ảnh hưởng theo những mức độ khác nhau từ dịch bệnh Covid-19. Tại Pháp, tác động của dịch bệnh là nghiêm trọng và ảnh hưởng tới mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Theo đánh giá của Ngân hàng trung ương và Viện Thống kê và Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia (INSEE) Pháp thì mức suy thoái của Pháp sẽ ở quy mô chưa từng có trong lịch sử hiện đại của nước này. Cả hai tổ chức đều dự đoán hoạt động kinh tế của Pháp sẽ suy giảm khoảng 9% trong năm 2020 (thấp hơn dự báo vào tháng 6/2020 là 10,3%), cao hơn nhiều so với con số -2,9% gây ra bởi cuộc suy thoái năm 2009. Theo đó, GDP năm 2020 tương đương GDP năm 2011 với sức mua sụt giảm mạnh tương đương với sức mua năm 2009, thâm hụt tài khoản vãng lai khoảng 2,6% và nợ công lên đến 115% GDP (mức chưa từng có kể từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc).

Đại dịch Covid-19 và các biện pháp dự phòng được Chính phủ áp dụng từ đầu dịch được cho là sẽ gây ra thiệt hại về thu nhập lên tới 191 tỷ euro cho cả năm 2020, mức tổn thất chưa từng có kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Trong đó, nhà nước và các cơ quan hành chính xã hội chịu mức thiết hại lớn nhất khoảng 2/3 tổng số thiệt hại (tương đương 125 tỷ euro). Thu nhập của các hộ gia đình ước tính bị thiệt hại khoảng 8 tỷ euro, tương đương 4% tổng thu nhập trong khi các doanh nghiệp sẽ mất khoảng 30% thu nhập, tương đương gần 60 tỷ euro.

Về thương mại quốc tế, trong quý III năm 2020, hoạt động xuất nhập khẩu của Pháp đã có những dấu hiệu cải thiện khi xuất khẩu trong quý III đạt 108,5 tỷ euro tăng 29,4% và nhập khẩu đạt 129 tỷ euro, tăng 23,7% so với số liệu quý II. Tuy nhiên Pháp vẫn đối mặt với thâm hụt thương mại trong quý III năm 2020 khoảng 20,5 tỷ euro (không đổi so với quý II). Và như vậy, trong 11 tháng đầu năm 2020, thâm hụt thương mại hàng hóa của Pháp đạt 54,2 tỷ euro.

Theo số liệu của Cơ quan thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) ổn định trong tháng 11 và duy trì mức 0% trên cả năm. Giá cả trong tháng 10 các loại hình dịch vụ giảm -0,3% (-1,5% trong tháng 9); Giá năng lượng tăng 0,2% (-0,7% trong tháng 9) và giá cả thực phẩm tăng 0,2% (-0,5% vào tháng 9).

Tỷ lệ thất nghiệp tại Pháp ước đạt 9% trong năm 2020, với tổng số lao động thất nghiệp lên 2,7 triệu người chiếm 9% dân số lao động, tăng mạnh ở nhóm người lao động từ 25-49 tuổi (+2,1 điểm) và từ 50 tuổi trở lên (+1,7 điểm).

Chỉ số tiêu dùng của hộ gia đình Pháp trong quý I và II năm 2020 giảm 5,8% và 11,6% so với cùng kỳ năm 2019, và tăng cao, 17,3% trong quý III so với quý II/2020. Mức tăng chủ yếu đến từ nhu cầu mua sắm hàng hóa sản xuất (+38,6%), dịch vụ (+20,2%) và năng lượng (+16,9%) thể hiện mong muốn của người dân Pháp muốn quay trở lại hoạt động bình thường trước đây và quan điểm chấp nhận sống chung với dịch bệnh. 

Triển vọng kinh tế 

Kịch bản của INSEE

Trong bối cảnh dịch bệnh chưa được kiểm soát hoàn toàn, INSEE chọn phương án không đưa ra dự báo tăng trưởng trong hai năm tới. Tuy nhiên, tổ chức này đưa ra kỳ vọng rằng tăng trưởng hai quý đầu năm 2021 sẽ lần lượt là 3% và 2%. Đồng thời, các hoạt động kinh tế cho tới tháng 6/2021 được kỳ vọng sẽ thấp hơn 3% so với mức “bình thường” vào cuối năm 2019.

Kịch bản của Ngân hàng trung ương Pháp

Ngân hàng trung ương Pháp thì lại đưa ra dự báo về triển vọng dựa trên 3 kịch bản khác nhau: (i) kịch bản “thuận lợi”, dựa trên kỳ vọng sẽ kiểm soát được dịch bệnh ngay trong quý I năm 2021 nhờ vào triển khai vắc xin trên diện rộng; (ii) kịch bản “trung tâm” dựa trên lý thuyết là dịch sẽ không dừng lại ngay lập tức và việc triển khai vắc xin trên diện rộng sẽ không có hiệu quả đầy đủ cho đến cuối năm 2021; và (iii)  kịch bản “nghiêm trọng” đưa ra giả thiết virus vẫn tiếp tục đà lây lan mạnh trong 2 năm tới.

- Kịch bản 1: Kinh tế có sự phục hồi nhanh chóng trong năm 2021 và năm 2022 lần lượt với mức tăng trưởng GDP là 7% và 5%. Với mức tăng trưởng như vậy, các hoạt động kinh tế của Pháp sẽ quay trở về mức “bình thường” vào giữa năm 2022.

- Kịch bản 2: Tăng trưởng năm 2021 và năm 2022 được dự đoán sẽ đạt 5% mỗi năm và như vậy các hoạt động kinh tế “bình thường” sẽ được phục hồi vào cuối năm 2022. Đà phục hồi tốt được dự báo sẽ tiếp tục được duy trì sang năm 2023 với mức tăng trưởng khoảng 2%, vẫn khả quan hơn so với mức tăng trưởng trung bình dài hạn của Pháp.

- Kịch bản 3: Tăng trưởng GDP năm 2021 của Pháp được dự đoán sẽ tiếp tục giảm 1% và chỉ bắt đầu phục hồi vào năm 2022 với mức tăng trưởng dự đoán 4%. Theo kịch bản này, phải tới năm 2024 nền kinh tế Pháp mới quay trở lại mức bình thưởng của năm 2019.

Tuy nhiên, đối với mọi kịch bản thì Ngân hàng trung ương Pháp cho rằng tỷ lệ thất nghiệp của Pháp sẽ tăng mạnh trong năm 2021 và nhiều khả năng sẽ duy trì dài hạn ở mức cao hơn mức trung bình trong giai đoạn vừa qua.

Kịch bản của Trung tâm nghiên cứu kinh tế Pháp (OFCE)

OFCE dựa trên giả định trong năm 2021 sẽ không có thêm lệnh cách ly xã hội,chiến dịch tiêm chủng sẽ thành công và các hoạt động quay trở lại trạng thái gần như bình thường vào nửa cuối năm 2021. Trong kịch bản “lý tưởng” này, có tính đến tác động dự kiến ​​của Kế hoạch phục hồi, thì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân năm 2021 sẽ đạt 7,1%, thấp hơn 1,4% so với cuối năm 2019.

Theo kịch bản này thì tỷ lệ thất nghiệp năm 2021 vẫn sẽ duy trì ở mức cao với hơn 790.000 việc làm sẽ mất đi cho tới cuối năm 2021, trong đó 180.000 việc làm bị mất do các doanh nghiệp phá sản. Theo đó, tỷ lệ thất nghiệp sẽ đạt 10,6% dân số lao động vào cuối năm 2021, tăng 2,5 điểm so với quý cuối cùng của năm 2019.

Quan hệ kinh tế - thương mại giữa Việt Nam và Pháp (Theo số liệu của Hải quan Pháp; Số liệu hàng hóa xuất khẩu sang Pháp được tính theo giá CIF và hàng hóa nhập khẩu từ Pháp theo giá FOB):  Trong năm 2020, tình hình dịch Covid-19 ảnh hưởng mạnh tới trao đổi thương mại hai chiều Việt Nam và Pháp. Theo số liệu của Hải quan Pháp, kim ngạch xuất nhập khẩu trong 11 tháng 2020 giữa hai nước đạt 5,81 tỷ euro, giảm 13,3% so với cùng kỳ năm 2019. Trong những năm gần đây, Việt Nam luôn là nước xuất siêu sang Pháp, thâm hụt thương mại của Pháp với Việt Nam trong 11 tháng năm 2020 đạt gần 4,1 tỷ euro, gấp gần 5 lần kim ngạch xuất khẩu của Pháp.

Về xuất khẩu Việt Nam sang Pháp: Theo Hải quan Pháp, tổng kim ngạch hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Pháp trong 11 tháng năm 2020 đạt hơn 4,95 tỷ euro, giảm 5,4% so với cùng kỳ năm 2019 (5,24 tỷ euro); trong đó kim ngạch xuất khẩu: (1) máy móc, thiết bị viễn thông đạt 1,1 tỷ euro (giảm 16,9% so cùng kỳ), (2) giầy dép đạt 985 triệu euro (giảm 7,7% so cùng kỳ), (3) quần áo thể thao đạt 349,2 triệu euro (giảm 7,3% so cùng kỳ), (4) quần áo và phụ kiện khác 237,7 triệu euro (tăng 9,9% so cùng kỳ), (5) máy tính và thiết bị đạt 234,8 triệu euro (giảm 6,3% so cùng kỳ), (6) các sản phẩm dệt (trừ quần áo) đạt 221,7,3 triệu euro (tăng 415,4% so cùng kỳ), (7) quần áo lót đạt 208,7 triệu euro (giảm 19,1% so cùng kỳ), v,v...

Nhóm hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Pháp  (11 tháng năm 2020)

Đơn vị: nghìn EUR

TT

TẢ

11T/2019

11T/2020

Tăng/Giảm (%)

Tổng

5 235 307

4 950 884

-5,4

1

2630 – Máy móc, thiết bị viễn thông                                                                                                                         

1 334 475

1 109 450

-16,9

2

1520 – Giầy dép                                                                                                                                          

1 067 763

985 052

-7,7

3

1413 – Quần áo thể thao                                                                                                                               

376 528

349 183

-7,3

4

1419 – Quần áo và phụ kiện khác                                                                                                                   

216 384

237 705

9,9

5

2620 – Máy tính và thiết bị                                                                                                            

250 463

234 800

-6,3

6

1392 – Các sản phẩm dệt, trừ quần áo                                                                                                       

43 013

221 678

415,4

7

1414 – Quần áo lót                                                                                                                                    

257 971

208 737

-19,1

8

1512 – Đồ du lịch, túi xách, mũ, ủng

154 832

137 323

-11,3

9

2823 – Máy móc, thiết bị văn phòng (trừ máy tính và linh kiện)             

100 558

103 025

2,5

10

2640 – Thiết bị điện dân dụng                                                                                                           

111 455

93 343

-16,3

11

1020 – Cá, hải sản chế biến và đóng hộp                                                                           

121 986

87 801

-28,0

12

3109 – Đồ gỗ nội thất khác                                                                                                                                         

83 790

87 797

4,8

13

1439 – Các sản phẩm dệt, đan khác                                                                                                                             

74 297

77 761

4,7

14

1039 – Rau, quả chế biến và đóng hộp bảo quản

66 851

72 595

8,6

15

3100 – Bàn ghế, đồ gỗ nội thất                                                                                                            

71 955

68 716

-4,5

16

2660 – Thiết bị chiếu điện, chiếu xạ                                                                         

60 859

56 766

-6,7

17

2229 – Các sản phẩm bằng nhựa khác                                                                                                                 

40 173

44 107

9,8

18

0127 – Đồ uống từ thực vật                                                                                                                                     

55 920

43 014

-23,1

19

2711 – Mô –tơ, máy phát điện và biến thế

51 280

36 277

-29,3

20

3240 – Đồ chơi                                                                                                                                         

24 100

32 884

36,4

Nguồn: Hải quan Pháp

Về nhập khẩu từ Pháp về Việt Nam

Theo số liệu Hải quan Pháp, tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu từ Pháp vào Việt Nam trong 11 tháng năm 2020 đạt gần 858 triệu euro, giảm 41,5% so với 11 tháng năm 2019. Những mặt hàng nhập khẩu chủ yếu gồm: (1) nguyên liệu làm thuốc, dược phẩm đạt 255,7 triệu euro (tăng 8,2% so với cùng kỳ), (2) nước hoa và sản phẩm vệ sinh đạt 48,5 triệu euro (tăng 16,7% so với cùng kỳ), (3) nhôm tấm đạt 25 triệu euro (giảm 11,7% so với cùng kỳ), (4) sản phẩm sữa và phô-mai đạt 19,8 triệu (giảm 25,9% so với cùng kỳ), (5) Malt bia đạt 19,5 triệu euro (tăng 13,1%) so với cùng kỳ, v,v...

Đặc biệt, do tác động của dịch Covid-19, nhóm hàng động cơ hàng không, trước đây là nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Pháp bị ảnh hưởng nặng với kim ngạch xuất khẩu 11 tháng năm 2020 chỉ đạt 16,4 triệu euro giảm mạnh so với kim ngạch 526,6 triệu euro cùng kỳ năm 2019.

Nhóm hàng nhập khẩu chính của Việt Nam từ Pháp

(11 tháng năm 2020)

                                                           Đơn vị: Nghìn EUR

 STT

TẢ

11T.2019

11T.2020

Tăng/Giảm (%)

Tổng

1 465 520

857 725

-41,5

1

2120 - Nguyên liệu làm thuốc dược phẩm                                                                                                                       

236 328

255 690

8,2

2

2042 - Nước hoa và sản phẩm vệ sinh                                                                                                                 

41 519

48 468

16,7

3

2432 - Nhôm tấm                                                                                                                         

28 362

25 042

-11,7

4

1051 - Sản phẩm sữa và Phô-mai                                                                                                               

26 695

19 780

-25,9

5

1106 - Malt bia                                                                                                                                                   

17 241

19 499

13,1

6

3030 - Động cơ hàng không                                                                                                                             

526 636

16 399

-96,9

7

3250 - Dụng cụ vật tư nha khoa                                                                                          

18 119

15 684

-13,4

8

2059 - Sản phẩm hóa chất khác                                                                                                                      

16 781

14 563

-13,2

9

2651 - Máy móc thiết bị đo lường, điều khiển

15 140

14 283

-5,7

10

2014 - Hóa chất hữu cơ khác                                                                                                           

10 152

14 046

38,4

11

0220 - Gỗ thô                                                                                                                                      

11 318

12 943

14,4

12

2020 - Thuốc sâu và hóa chất cho nông nghiệp                                                

15 414

12 865

-16,5

13

1091 - Thức ăn cho gia súc                                                                                                                        

10 929

12 497

14,3

14

2711 - Mô tơ, máy phát điện, máy biến thế                                                                                                    

14 917

11 721

-21,4

15

2016 - Nguyên liệu nhựa dạng thô                                                                                                              

10 583

10 614

0,3

16

1512 - Đồ du lịch, túi, mũ, ba lô                                                                                    

11 009

10 402

-5,5

17

2712 - Bảng điều khiển và phân phối điện                                                                                                     

11 175

8 917

-20,2

18

1102 - Rượu vang                                                                                                                                      

16 856

8 852

-47,5

19

2053 - Dầu tinh chế                                                                                                                                   

9 768

8 652

-11,4

20

1089 - Thực phẩm khác                                                                                                                   

9 009

8 480

-5,9

Nguồn: Hải quan Pháp

Cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam tại Pháp

Do tác động của dịch Covid-19, tập quán tiêu dùng tại Pháp có nhiều thay đổi, đặc biệt là sự bùng nổ của thương mại trực tuyến. Đây là một xu thế chung nhưng được đẩy nhanh hơn do đại dịch Covid-19 và mới chỉ đang ở giai đoạn đầu. Khi hoạt động mua sắm trực tuyến từ “thú vui” trở thành “thiết yếu” do các lệnh giới nghiêm và cách ly xã hội, các nhà bán hàng trực tuyến thu về lợi nhuận khổng lồ vượt ngoài kế hoạch dự kiến. Bên cạnh đó, xu thế mới này sẽ tạo ra một nhu cầu mới và kéo theo sự phát triển của nhiều dịch vụ liên kết khác, như dịch vụ kho hàng trực tuyến, dịch vụ vận chuyển,v.v…

 Đối với Pháp, một thị trường nổi tiếng truyền thống, việc mua sắm trưc tiếp tại các cửa hàng vốn là thú vui và là văn hóa lâu nay, doanh thu bán hàng trực tuyến 6 tháng đầu năm 2020 cũng đạt mức tăng trưởng 13% so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng trong hai tháng cách ly xã hội đợt 1 (tháng 3 và 4 năm 2020), chi tiêu mua sắm trực tuyến tăng 37% so với cùng kỳ năm 2019 và tăng 51% vào đúng thời điểm đỉnh dịch (tháng 4 năm 2020). Bên cạnh đó, do tỷ lệ thất nghiệp tăng cao trong năm 2020, sức mua của người tiêu dùng suy giảm đáng kể, nhu cầu đối với hàng hóa giá rẻ cũng tăng mạnh. Tăng trưởng bùng nổ của cửa hàng trực tuyến Amazon trên toàn cầu phản ảnh rõ nhu cầu nói trên.

Có thể nói đây là cơ hội tốt cho hàng hóa có giá cả cạnh tranh của Việt Nam. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam phần nhiều chưa sẵn sàng và suy nghĩ nghiêm túc tới kế hoạch phát triển, mở rộng thị trường sang châu Âu qua kênh thương mại trực tuyến. Trong khi đó, các doanh nghiệp Trung Quốc đã xuất phát sớm và với chiến lược rõ ràng, hiện nay đang ngày càng lấy được lòng tin của người tiêu dùng trực tuyến do đảm bảo dịch vụ “chất lượng 5 sao” với những sản phẩm tương đồng và tương đương với chất lượng hàng hóa của Việt Nam. Cơ hội đối với các doanh nghiệp Việt Nam là rất lớn và các doanh nghiệp cần đổi mới tư duy, nhanh chóng nghiên cứu, chuẩn bị chiến lược tiếp cận thị trường một cách hiệu quả.

Nguồn: Vụ TT châu Âu - châu Mỹ