Thương mại - Công nghiệp

Thương mại giữa Việt Nam và EU 5 tháng sau khi Hiệp định EVFTA đi vào thực thi

01/02/2021

Kể từ khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực từ ngày 01 tháng 08 năm 2020 đến nay quan hệ thương mại giữa Việt Nam và EU đã có những tiến triển đáng ghi nhận.

Có thể nói, năm 2020, việc Hiệp định EVFTA có hiệu lực là yếu tố hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa sang thị trường này. Sau 5 tháng triển khai Hiệp định từ tháng 8 năm 2020, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang EU đạt 15,6 tỷ USD, tăng 3,84% so với cùng kỳ năm trước; trong khi 7 tháng đầu năm kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang EU27 đạt 19,5 tỷ USD, giảm 5,88% so với cùng kỳ năm 2019.

Trong cả năm 2020 kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang EU đạt 35,14 tỷ USD, giảm 1,79% so với năm 2019. So với mức giảm 1,18% năm 2019 là khá khả quan trong bối cảnh nhu cầu nhập khẩu hàng hóa của EU giảm do tác động của dịch Covid-19.

Bảng 1: Thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong khối EU27 năm 2020 trước và sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực

Thị trường

5 tháng sau khi EVFTA có hiệu lực (nghìn USD)

So với cùng kỳ năm 2019 (%)

7 tháng đầu năm 2020 (nghìn USD)

So với 7 tháng năm 2019 (%)

Năm 2020 (nghìn USD)

So với năm 2019 (%)

Tổng

15.622.518

3,84

19.516.480

-5,88

35.138.998

-1,79

Hà Lan

3.164.959

3,23

3.834.334

0,55

6.999.293

1,74

Đức

2.848.377

6,12

3.795.671

-1,84

6.644.048

1,42

Pháp

1.404.073

-8,38

1.892.912

-15,11

3.296.985

-12,37

Italia

1.369.670

-1,31

1.747.713

-14,80

3.117.383

-9,36

Áo

1.222.751

-10,45

1.659.677

-12,68

2.882.428

-11,75

Bỉ

1.003.900

-3,83

1.310.906

-12,94

2.314.806

-9,21

Tây Ban Nha

932.518

-18,31

1.197.603

-24,01

2.130.121

-21,62

Ba Lan

845.514

22,60

928.530

14,76

1.774.044

18,36

Thụy Điển

455.703

-6,19

671.003

-3,85

1.126.706

-4,81

Slovakia

634.767

69,49

530.933

-1,38

1.165.700

27,69

Hunggary

500.403

167,67

424.691

92,12

925.093

126,74

Cộng Hoà Séc

204.978

108,15

219.491

97,59

424.469

102,55

Bồ Đào Nha

175.164

5,64

200.967

-12,32

376.132

-4,78

Đan Mạch

123.180

-11,21

171.833

-13,09

295.013

-12,32

Hy Lạp

113.589

-4,19

145.702

-5,27

259.291

-4,80

Slovenia

140.542

1,05

143.593

-29,31

284.136

-16,97

Rumani

81.120

7,22

139.078

17,67

220.198

13,59

Látvia

103.379

15,16

106.555

-7,13

209.935

2,66

Phần Lan

49.519

1,45

91.373

29,17

140.892

17,85

Ai Len

93.097

80,46

79.483

-17,54

172.580

16,62

Lítva

43.362

-18,49

61.771

-3,88

105.133

-10,50

Croatia

15.397

-46,75

35.017

-36,56

50.413

-40,06

Luxembua

29.879

35,95

35.001

20,48

64.880

27,14

Bungari

24.120

0,23

34.120

-0,62

58.239

-0,27

Estonia

17.247

43,42

31.605

59,04

48.853

53,15

Síp

15.642

6,12

22.489

1,63

38.132

3,43

Manta

9.667

108,49

4.429

-20,16

14.095

38,41

Nguồn: Tổng Cục Hải quan Việt Nam

Ngành hàng nào được hưởng lợi?

Sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, xuất khẩu hầu hết các mặt hàng khả quan hơn so với trước khi Hiệp định có hiệu lực với mức giảm chậm lại, tăng trở lại hoặc tăng mạnh hơn. Tuy nhiên vẫn còn những mặt hàng có mức giảm mạnh hơn trước khi Hiệp định có hiệu lực. Việc xuất khẩu hầu hết các mặt hàng khả quan hơn một phần do nhu cầu từ EU phục hồi sau cú sốc dịch Covid-19 bùng phát hồi đầu năm và nhiều doanh nghiệp tận dụng tốt ưu đãi từ Hiệp định EVFTA.

Các mặt hàng có mức tăng trưởng khả quan sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực gồm: Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; hàng thủy sản; phương tiện vận tải và phụ tùng; sản phẩm từ sắt thép, sản phẩm từ chất dẻo; sắt thép các loại; hàng rau quả; sản phẩm mây, tre, cói và thảm...

Các mặt hàng có mức giảm chậm lại gồm: điện thoại các loại và linh kiện; giày dép các loại; hàng dệt may; hạt điều; cao su...

Trong khi xuất khẩu cà phê, Túi xách, ví,vali, mũ, ô, dù; gỗ và sản phẩm gỗ lại giảm mạnh hơn.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, năm 2020, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ thị trường EU đạt 14,65 tỷ USD, tăng 4,24% so với năm 2019. Hiệp định EVFTA cũng đã có tác động đến hoạt động nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ EU khi kim ngạch nhập khẩu sau khi Hiệp định có hiệu lực tăng mạnh hơn trước. Theo đó, 5 tháng cuối năm 2020, sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ thị trường EU đạt 6,56 tỷ USD, tăng 5,84% so với cùng kỳ năm 2019, trong khi kim ngạch nhập khẩu 7 tháng đầu năm 2020 chỉ tăng 2,97%.

Sau khi EVFTA có hiệu lực, nhập khẩu hàng hóa từ nhiều thị trường trong khối EU tăng so với cùng kỳ năm 2019 như: Ai Len, Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha, Ba Lan, Hungary, Đan Mạch, Bồ Đào Nha…; trong khi nhập khẩu từ Italia, Pháp tiếp tục giảm.

Tính chung năm 2020, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ hầu hết thị trường lớn trong khối EU vẫn giảm so với cùng kỳ năm 2019; trong khi nhập khẩu từ Ai Len, Ba Lan, Hunggary, Séc, Síp tăng.

Bảng 2: Thị trường cung cấp hàng hóa cho Việt Nam trong khối EU năm 2020 trước và sau khi EVFTA có hiệu lực

Mặt hàng

5 tháng sau khi EVFTA có hiệu lực (nghìn USD)

So với cùng kỳ năm 2019 (%)

7 tháng đầu năm 2020 (nghìn USD)

So với 7 tháng năm 2019 (%)

Năm 2020 (nghìn USD)

So với năm 2019 (%)

Tổng

6.564.566

5,84

8.083.486

2,97

14.648.052

4,24

Ai Len

1.868.053

32,22

2.192.528

102,15

4.060.581

62,59

Đức

1.503.048

1,67

1.844.487

-17,06

3.347.535

-9,58

Italia

647.515

-15,99

863.609

-21,99

1.511.124

-19,53

Pháp

669.721

-5,27

850.405

-4,20

1.520.125

-4,67

Hà Lan

300.385

9,25

356.565

-7,68

656.950

-0,64

Tây Ban Nha

231.743

4,84

294.725

-7,60

526.467

-2,51

Bỉ

206.670

-0,95

267.155

-23,84

473.825

-15,30

Thụy Điển

142.052

-3,94

210.379

-6,46

352.431

-5,46

Ba Lan

148.691

8,81

191.924

18,26

340.615

13,94

Hunggary

190.660

16,90

181.175

3,69

371.835

10,07

áo

136.794

-8,64

161.454

-14,90

298.247

-12,14

Phần Lan

76.866

-40,53

119.777

1,05

196.643

-20,64

Đan Mạch

93.622

12,72

110.064

-31,61

203.686

-16,52

Cộng Hoà Séc

57.427

-1,48

72.837

12,72

130.263

5,99

Bồ Đào Nha

42.234

16,74

52.538

-23,07

94.772

-9,28

Hy Lạp

32.996

-1,68

44.697

-36,38

77.692

-25,17

Slovenia

33.874

25,93

42.835

0,37

76.710

10,25

Rumani

29.846

-13,67

38.349

16,70

68.196

1,13

Bungari

24.425

11,26

36.088

29,62

60.513

21,53

Síp

30.927

54,55

30.384

22,63

61.310

36,89

Luxembua

18.668

-23,93

27.183

28,63

45.852

0,39

Slovakia

21.913

38,41

25.145

-12,38

47.058

5,68

Látvia

6.426

29,56

19.701

92,98

26.127

72,24

Manta

19.514

85,16

19.498

16,94

39.013

43,36

Croatia

12.941

-6,30

12.773

-29,99

25.714

-19,79

Lítva

9.520

-2,33

8.859

-44,48

18.378

-28,50

Estonia

8.034

-2,66

8.355

-52,67

16.389

-36,74

Tổng

6.564.566

5,84

8.083.486

2,97

14.648.052

4,24

Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam

5 tháng cuối năm 2020, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ thị trường EU tăng so với cùng kỳ năm 2019 do nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, dược phẩm, thức ăn gia súc và nguyên liệu, phương tiện vận tải và phụ tùng tăng mạnh. Nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng như: chế phẩm thực phẩm khác; chất thơm, mỹ phẩm và chế phẩm vệ sinh… cũng tăng so với cùng kỳ năm 2019.

Triển vọng quan hệ thương mại giữa Việt Nam và EU trong năm 2021

Nhìn chung, trong năm 2020, cả phía Việt Nam và EU đều đã tận dụng những ưu đãi trong hoạt động thương mại từ Hiệp định EVFTA. Tuy nhiên, khả năng tận dụng bị hạn chế, không được như kỳ vọng bởi tác động của dịch Covid-19, ảnh hưởng đến nhu cầu nhập khẩu hàng hóa của cả 2 bên.

Đối với việc xuất khẩu hàng háo của Việt Nam, hiện nay một số mặt hàng nông sản của Việt Nam đã tận dụng tốt ưu đãi thuế quan từ Hiệp định như mặt hàng thủy sản, rau quả... Xuất khẩu các mặt hàng công nghiệp iêu dùng như dệt may, giày dép giảm do nhu cầu nhập khẩu của EU giảm bởi tác động của dịch Covid-19.

Trong tương quan so với các thị trường cung cấp hàng hóa lớn cho EU, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang EU dù giảm, nhưng vẫn khả quan hơn so với nhiều thị trường cung cấp khác, đặc biệt khi nhu cầu nhập khẩu của EU giảm mạnh. Theo ước tính của Eurostat, trong 11 tháng năm 2020 kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của EU từ hầu hết các thị trường cung cấp lớn đều giảm, trừ Trung Quốc và Malaysia. Ngoài 2 thị trường cung cấp có kim ngạch tăng, Việt Nam là thị trường có mức giảm kim ngạch thấp nhất, chỉ giảm 0,4% so với cùng kỳ năm 2019 trong 11 tháng năm 2020. Trong 11 tháng năm 2020, Việt Nam đã vượt Ấn Độ trở thành thị trường cung cấp hàng hóa lớn thứ 9 cho EU.

Với thị phần chiếm dưới 2% trong tổng kim ngạch nhập khẩu của EU, Hiệp định EVFTA sẽ là động lực để xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang EU tăng trong năm 2021. Cuối năm 2020, tình hình kinh tế EU đã có dấu hiệu khả quan hơn khi cả sản xuất công nghiệp, doanh thu tiêu dùng, xuất khẩu dần phục hồi về mức trước đại dịch Covid-19, mức giảm so với cùng kỳ năm 2019 ở mức thấp. Tuy nhiên tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao và dịch Covid-19 diễn biến khó lường sẽ tiếp tục có tác động đến nhu cầu tiêu thụ hàng hóa của người dân, đặc biệt là nhu cầu tiêu dùng hàng may mặc và giày dép vẫn giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2019. Dự báo, nửa đầu năm 2021, xuất khẩu hàng hóa sang EU sẽ tăng nhờ tác động của Hiệp định EVFTA và kim ngạch xuất khẩu nửa đầu năm 2020 ở mức thấp dưới tác động của dịch Covid-19. Xuất khẩu một số mặt hàng nông sản sẽ tiếp tục hưởng lợi từ những ưu đãi của Hiệp định EVFTA; trong khi xuất khẩu nhóm hàng tiêu dùng như: dệt may, giày dép sẽ phục hồi ở mức vừa phải do các nhà nhập khẩu vẫn thận trọng trong việc đặt hàng trước những diễn biến khó lường của dịch Covid-19.

(Nguồn: Vụ Thị trường châu Âu – châu Mỹ, Bộ Công Thương)