Tin tức tổng quan

Xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU có nhiều cơ hội đẩy mạnh tăng trưởng

18/01/2021

Theo số liệu thống kê sơ bộ trong tháng 12⁄2020, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường EU ước đạt 270 triệu USD, tăng 3,05% so với tháng 11⁄2020 và giảm 11,48% so với tháng 12⁄2019. Tính chung năm 2020, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường này đạt 3,08 tỷ USD, giảm 12,77% so với năm 2019.

Theo số liệu thống kê sơ bộ trong tháng 12/2020, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường EU ước đạt 270 triệu USD, tăng 3,05% so với tháng 11/2020 và giảm 11,48% so với tháng 12/2019. Tính chung năm 2020, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường này đạt 3,08 tỷ USD, giảm 12,77% so với năm 2019.

Diễn biến kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU

(ĐVT: Triệu USD)

 Nguồn: Tổng cục Hải quan; số liệu tháng 12 là ước tính

Trong năm 2020, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU giảm, chủ yếu do xuất khẩu sang các thị trường Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha, Italia, Thụy Điển, Đan Mạch … giảm mạnh. Riêng phần kim ngạch xuất khẩu giảm sang  4 thị trường Đức, Hà Lan, Tây Ban Nha, Italia đã bằng 82,19% kim ngạch giảm xuất khẩu sang cả khối EU. Ngược lại xuất khẩu sang một số thị trường thành viên EU khác chỉ giảm nhẹ như Bỉ giảm 2,27%, thậm chí còn tăng trưởng ở mức cao như thị trường Ba Lan tăng 7,77%, Luxembua tăng 33,8%...

Ước tính xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang EU năm 2020

Thị trường

Ước năm 2020
(Nghìn USD)

So với năm 2019 (%)

So với năm 2019 (Nghìn USD)

Tỷ trọng làm giảm KNXK (%)

Tỷ trọng xuất khẩu năm 2020 (%)

Tỷ trọng xuất khẩu năm 2019 (%)

Tổng

3.080.253

-12,77

-450.768

100,00

100,00

100,00

Đức

747.067

-7,15

-57.529

12,76

24,25

22,79

Hà Lan

601.280

-12,99

-89.750

19,91

19,52

19,57

Pháp

574.734

-2,94

-17.402

3,86

18,66

16,77

Bỉ

345.481

-2,27

-8.028

1,78

11,22

10,01

Tây Ban Nha

287.464

-33,48

-144.709

32,10

9,33

12,24

Italia

233.331

-20,75

-61.099

13,55

7,58

8,34

Ba Lan

67.409

7,77

4.861

-1,08

2,19

1,77

Thụy Điển

60.886

-21,62

-16.798

3,73

1,98

2,20

Đan Mạch

53.466

-31,65

-24.756

5,49

1,74

2,22

Áo

24.017

-31,67

-11.133

2,47

0,78

1,00

Ireland

18.893

-27,94

-7.326

1,63

0,61

0,74

CH Séc

12.125

-1,77

-218

0,05

0,39

0,35

Slovenia

11.587

-12,88

-1.714

0,38

0,38

0,38

Phần Lan

9.940

-29,67

-4.193

0,93

0,32

0,40

Croatia

9.536

-48,46

-8.965

1,99

0,31

0,52

Luxembua

9.313

33,89

2.358

-0,52

0,30

0,20

Hy Lạp

5.741

-28,67

-2.308

0,51

0,19

0,23

Latvia

3.457

21,98

623

-0,14

0,11

0,08

Hunggary

1.478

35,24

385

-0,09

0,05

0,03

Malta

766

-45,61

-642

0,14

0,02

0,04

Slovakia

603

-38,56

-378

0,08

0,02

0,03

Portugal

544

-31,14

-246

0,05

0,02

0,02

Romania

487

-47,59

-442

0,10

0,02

0,03

Estonia

290

-53,54

-334

0,07

0,01

0,02

Lithuania

191

-80,49

-790

0,18

0,01

0,03

Bulgaria

148

-59,53

-217

0,05

0,00

0,01

Cyprus

20

-47,71

-18

0,00

0,00

0,00

Nguồn: Ước tính dựa trên số liệu của Tổng cục Hải quan

Năm 2020, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU giảm 450,7 triệu USD so với năm 2019, chủ yếu do xuất khẩu nhiều chủng loại mặt hàng giảm như mặt hàng áo Jacket, quần, áo sơ mi, đồ lót… Đáng chú ý, xuất khẩu mặt hàng áo Jacket, đồ lót, quần, áo sơ mi giảm mạnh đã ảnh hưởng lớn tới tốc độ xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường EU. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu áo Jacket của Việt Nam sang EU đạt 841 triệu USD, giảm tới 152,5 triệu USD so với năm 2019, bằng 33,84% phần kim ngạch xuất khẩu giảm sang thị trường này. Tương tự mặt hàng đồ lót và quần cũng bằng 18,31% và 18,41% phần kim ngạch xuất khẩu giảm sang thị trường EU.

Đặc biệt, trong khi xuất khẩu hầu hết các chủng loại hàng dệt may thông thường của Việt Nam sang thị trường EU giảm thì xuất khẩu mặt hàng quần áo bảo hộ lao động (bao gồm cả đồ bảo hộ y tế) tăng cao trong năm 2020. Năm 2020, xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam sang EU đạt 227,9 triệu USD, tăng thêm 72,49 triệu USD so với năm 2019, bằng 21,2% kim ngạch xuất khẩu giảm tất cả các mặt hàng, hỗ trợ vào việc làm chậm lại đà suy giảm xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU.

Ước tính chủng loại hàng may mặc xuất khẩu của Việt Nam sang EU năm 2020

Chủng loại

Ước năm 2020 (Nghìn USD)

So với năm 2019 (%)

So với năm 2019 (Nghìn USD)

Tỷ trọng làm giảm KNXK (%)

Tỷ trọng xuất khẩu năm 2020 (%)

Tỷ trọng xuất khẩu năm 2019 (%)

Tổng

3.080.253

-12,77

-450.768

100,00

100,00

100,00

Áo Jacket

841.575

-15,34

-152.524

33,84

27,32

28,15

Quần

563.845

-13,54

-88.271

19,58

18,31

18,47

Áo thun

436.511

-8,41

-40.079

8,89

14,17

13,50

Quần áo BHLĐ

227.941

72,49

95.793

-21,25

7,40

3,74

Áo sơ mi

178.583

-20,11

-44.955

9,97

5,80

6,33

Đồ lót

162.345

-33,82

-82.967

18,41

5,27

6,95

Quần áo trẻ em

140.140

-1,82

-2.601

0,58

4,55

4,04

Quần Short

98.115

-13,54

-15.362

3,41

3,19

3,21

Găng tay

82.328

-6,23

-5.474

1,21

2,67

2,49

Váy

70.113

-28,65

-28.159

6,25

2,28

2,78

Quần áo bơi

49.801

-44,45

-39.842

8,84

1,62

2,54

Quần áo Vest

44.884

-14,93

-7.880

1,75

1,46

1,49

Bít tất

27.032

40,67

7.815

-1,73

0,88

0,54

Áo len

24.818

14,87

3.212

-0,71

0,81

0,61

Hàng may mặc

21.930

-33,80

-11.198

2,48

0,71

0,94

Quần áo ngủ

16.982

-25,72

-5.880

1,30

0,55

0,65

Vải

15.305

-45,54

-12.799

2,84

0,50

0,80

Áo

14.878

-74,79

-44.137

9,79

0,48

1,67

Áo Ghile

12.550

-14,33

-2.100

0,47

0,41

0,41

Quần Jean

5.733

4,74

259

-0,06

0,19

0,16

Khăn bông

3.861

-1,26

-49

0,01

0,13

0,11

PL may

3.645

22,86

678

-0,15

0,12

0,08

Quần áo mưa

2.801

-33,10

-1.386

0,31

0,09

0,12

Khăn

1.229

45,45

384

-0,09

0,04

0,02

Caravat

908

-66,86

-1.832

0,41

0,03

0,08

Màn

748

60,81

283

-0,06

0,02

0,01

Khăn bàn

505

-55,15

-621

0,14

0,02

0,03

Hàng may mặc

456

-98,62

-32.671

7,25

0,01

0,94

Áo Kimono

35

-11,43

-5

0,00

0,00

0,00

Nguồn: ước tính dựa trên số liệu của Tổng cục Hải quan

Nhận định và dự báo

Năm 2020, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường EU đạt 3,08 tỷ USD, giảm 12,77% so với năm 2019, chiếm 10,45% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam, giảm nhẹ so với tỷ trọng 10,87% của năm 2019. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu giảm khá so với năm 2019 và thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng trung bình trong vài năm gần đây, nhưng kết quả xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường EU trong năm 2020 vẫn tương đối khả quan. Sang năm 2021, xuất khẩu mặt hàng này của Việt Nam sang EU tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn thách thức, song vẫn có những cơ hội để tăng trưởng. Đó là:

+  Trong bối cảnh nhu cầu về các chủng loại hàng may mặc thông thường đều có xu hướng chững lại, thì nhu cầu về các loại quần áo thể thao tiếp tục gia tăng, do hoạt động thể thao được người tiêu dùng châu Âu tăng cường trong giai đoạn Covid-19, mở ra cơ hội tăng xuất khẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam sang EU thời gian tới.

Mặc dù dịch Covid-19 còn diễn biến phức tạp nhưng phong trào thể thao ở các nước thành viên EU vẫn diễn ra sôi động, đặc biệt là những phong trào thể thao cá nhân như chạy bộ, trượt tuyết, trượt băng…, do người dân nhận thức rõ được sự quan trọng của sức khỏe. Do đó, sản phẩm thể thao của Việt Nam có nhiều cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu sang EU trong thời gian tới.

+ Năm 2020, thị phần hàng dệt may của Việt Nam tại EU vẫn được cải thiện so với năm 2019, là cơ sở vững chắc cho dự báo xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU khả quan trong thời gian tới, đặc biệt khi nhu cầu nhập khẩu từ thị trường này hồi phục.

Theo số liệu của Eurostat, xét nhập khẩu hàng dệt may của EU từ thị trường ngoài khối, tỷ trọng nhập khẩu hàng dệt may của EU từ Việt Nam tăng từ 3,87% của 9 tháng đầu năm 2019 lên 3,92% trong 9 tháng đầu năm 2020. Còn nếu xét tổng nhập khẩu cả nội khối và ngoại khối, tỷ trọng nhập khẩu hàng dệt may của EU từ Việt Nam tăng nhẹ từ 2,0% lên 2,1% trong 9 tháng đầu năm nay.

+ EVFTA có hiệu lực vào ngày 01/8/2020 sẽ đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang thị trường EU.

Với việc EU cắt giảm hơn 90% các dòng thuế của Việt Nam vào thị trường này, trong thời gian ngắn sẽ tạo điều kiện cho hàng xuất khẩu của Việt Nam nói chung và các sản phẩm trong lĩnh vực thể thao nói riêng có điều kiện thuận lợi để mở rộng thị phần tại EU, qua đó giúp đa dạng hóa thị trường.

+ Việt Nam ký thỏa thuận cộng gộp xuất xứ sản phẩm dệt may với Hàn Quốc sẽ giải quyết được khó khăn về nguyên liệu dệt may chất lượng cao và tận dụng cơ hội xuất khẩu sản phẩm dệt may sang thị trường EU.

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam sang EU vẫn phải đối mặt với không ít khó khăn, đó là:

+ Tình hình dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp tại nhiều quốc gia trong đó có các thành viên EU, các hoạt động giãn cách xã hội được tái áp dụng sẽ khiến cho nhu cầu về các loại hàng hóa không phải hàng thiết yếu giảm mạnh trong đó có các sản phẩm may mặc thời trang.

+ Nhu cầu tiêu dùng trên thế giới bị ảnh hưởng bởi các hoạt động giãn cách xã hội, cùng những chính sách thắt lưng buộc bụng của các hộ gia đình. Niềm tin tiêu dùng các mặt hàng, đặc biệt là các mặt hàng không phải thiết yếu, ở nhiều thị trường lớn chưa có những tín hiệu tốt.

+ Các số liệu nhập khẩu hàng may mặc và một loạt động thái giảm giá kích cầu, đẩy hàng tồn kho nhằm tránh tồn đọng vốn của các hãng bán lẻ, cũng như tạm ngừng nhập khẩu may mặc của các nhà nhập khẩu lớn cho thấy thị trường cũng như cầu tiêu dùng các mặt hàng quần áo đang chững lại.

Như vậy, sang năm 2021, dù tình hình dịch bệnh Covid-19 tại châu Âu vẫn diễn biến khó lường nhưng với tiền đề là kết quả khả quan trong năm 2020, EVFTA được áp dụng rộng và sâu hơn cùng với đó là thỏa thuận cộng gộp xuất xứ sản phẩm dệt may với Hàn Quốc vừa được ký kết vẫn sẽ hỗ trợ tích cực cho hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường EU.

Nhập khẩu hàng may mặc của EU 9 tháng đầu năm 2020 từ một số thị trường chủ yếu

Thị trường

9 tháng năm 2020

Tỷ trọng nhập khẩu trong tổng của EU

Tỷ trọng nhập khẩu từ thị trường ngoài khối (%)

Trị giá (triệu Euro)

Trị giá (triệu USD)

So với 9T/2019 (%)

9T/2020

9T/2019

9T/2020

9T/2019

Tổng nhập khẩu nội khối và ngoại khối

101.652

124.169

-11,85

100,00

100,00

Nội khối

49.557

60.534

-8,78

48,75

47,11

Ngoại khối

52.095

63.635

-14,59

51,25

52,89

100,00

100,00

Trung Quốc

15.702

19.180

-10,45

15,45

15,21

30,14

28,75

Bangladesh

9.624

11.756

-18,16

9,47

10,20

18,47

19,28

Thổ Nhĩ Kỳ

6.014

7.347

-10,02

5,92

5,80

11,55

10,96

Anh

2.879

3.517

-16,95

2,83

3,01

5,53

5,68

Ấn Độ

2.392

2.922

-25,87

2,35

2,80

4,59

5,29

Việt Nam

2.040

2.492

-11,52

2,01

2,00

3,92

3,78

Campuchia

1.938

2.368

-22,22

1,91

2,16

3,72

4,09

Pakistan

1.613

1.970

-13,12

1,59

1,61

3,10

3,04

Myanmar

1.547

1.890

-3,15

1,52

1,39

2,97

2,62

Ma rốc

1.512

1.847

-24,55

1,49

1,74

2,90

3,29

Tunisia

1.229

1.502

-16,70

1,21

1,28

2,36

2,42

Sri Lanka

773

945

-14,07

0,76

0,78

1,48

1,48

Indonesia

708

865

-18,98

0,70

0,76

1,36

1,43

Thụy Sỹ

579

707

-13,07

0,57

0,58

1,11

1,09

Serbia

277

339

-11,18

0,27

0,27

0,53

0,51

Thái Lan

272

332

-13,78

0,27

0,27

0,52

0,52

  Nguồn: Tính toán từ số liệu của Eurostat

(Tỷ giá quy đổi: 1 Euro = 1,221 USD)