Tin tức tổng quan

Tác động của EVFTA đến xuất khẩu thủy sản sang EU năm 2020 và dự báo

18/01/2021

Hiệp định EVFTA đã có hiệu lực từ ngày 01⁄8⁄2020. Theo đó, 220 mặt hàng thủy sản có mức thuế suất cơ sở từ 0 - 22%, trong đó mức thuế cao từ 6 - 22% sẽ về 0%. Trong đó, phải kể đến một số sản phẩm chế biến đang có mức thuế cơ bản khá cao (20%) sẽ được giảm ngay về 0% như hàu, điệp, mực, bạch tuộc, nghêu, sò, bào ngư chế biến…

Hiệp định EVFTA đã có hiệu lực từ ngày 01/8/2020. Theo đó, 220 mặt hàng thủy sản có mức thuế suất cơ sở từ 0 - 22%, trong đó mức thuế cao từ 6 - 22% sẽ về 0%. Trong đó, phải kể đến một số sản phẩm chế biến đang có mức thuế cơ bản khá cao (20%) sẽ được giảm ngay về 0% như hàu, điệp, mực, bạch tuộc, nghêu, sò, bào ngư chế biến…

Riêng cá ngừ đóng hộp và cá viên, EU dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan lần lượt là 11.500 tấn và 500 tấn. Ngoài ra, hầu hết các sản phẩm mực, bạch tuộc đông lạnh đang có mức thuế cơ bản 6 - 8% sẽ được giảm ngay về 0%, các sản phẩm khác như surimi được giảm từ 14,2% về 0%, cá cờ kiếm từ 7,5% về 0%.

Các sản phẩm tôm sú, tôm chân trắng đông lạnh (mã HS 03061792) được giảm từ mức đang áp dụng là 4,2% (thuế GSP) về 0% ngay từ ngày 1/8/2020. Các sản phẩm tôm khác theo lộ trình 3 - 5 năm, riêng tôm chế biến, thuế sẽ giảm từ mức 7% (GSP) về 0% sau 7 năm.

Đối với sản phẩm cá tra đông lạnh, lộ trình giảm thuế từ 5,5% về 0% sau 3 năm, riêng cá hun khói lộ trình 7 năm.

Sản phẩm cá ngừ đông lạnh được giảm thuế về 0% ngay, trừ thăn cá ngừ đông lạnh (loin) cần lộ trình 7 năm.

Tác động của EVFTA tới xuất khẩu thủy sản của Việt Nam năm 2020

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU tháng 11/2020 đạt 14,3 nghìn tấn với trị giá 64,17 triệu USD, giảm 35,9% về lượng và giảm 41,44% về trị giá so với tháng 10/2020, giảm 2,94% về lượng và giảm 8,44% về trị giá so với tháng 11/2019, chiếm 7,91% về lượng và 8,65% về trị giá xuất khẩu thủy sản của cả nước.

Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tới EU năm 2019 – 2020

(ĐVT: Nghìn tấn – Triệu USD)

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan; ước tính tháng 12/2020

Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tới EU đã tăng sau khi EVFTA có hiệu lực, nhưng trong tháng 11 và tháng 12 năm 2020 giảm nhẹ so với cùng kỳ năm 2019. Nguyên nhân chính là do các nhà nhập khẩu thủy sản của  EU đã chủ động giảm lượng thủy sản nhập khẩu cho dịp Lễ vì e ngại tác động xấu từ dịch Covid – 19. Bên cạnh đó việc giảm lượng tồn kho thủy sản cũng là giải pháp nhằm cắt giảm chi phí. Điều này đã khiến cho xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tới EU giảm nhẹ trong tháng 11 và tháng 12/2020. Ngoài ra từ phía Việt Nam thì sản lượng thủy sản khai thác đủ điều kiện xuất khẩu tới EU trong giai đoạn này không cao vì tác động của những cơn bão.

Tính chung 11 tháng năm 2020, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU đạt 187,92 nghìn tấn với trị giá 870,15 triệu USD, giảm 9,2% về lượng và giảm 6,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2019, chiếm 10,2% về lượng và 11,32% về trị giá xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.

11 tháng năm 2020, xuất khẩu tôm, cá ngừ và nghêu tới EU có lượng tăng so với 11 tháng năm 2019. Trong khi xuất khẩu các nhóm hàng khác như cá tra, mực, bạch tuộc và cua giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2019. Xuất khẩu tôm của Việt Nam tới EU 11 tháng năm 2020 chiếm 30,24% về lượng và 54,41% về trị giá; cá ngừ chiếm 13,3% về lượng và 13,87% về trị giá; cá tra chiếm 27,41% về lượng và 13,26% về trị giá; nghêu chiếm 15,3% về lượng và 5,73% về trị giá; mực chiếm 3,25%  về lượng và 3,39% về trị giá.

Các số liệu thống kê xuất khẩu cho thấy khi EVFTA có hiệu lực, tôm, nghêu, cá ngừ và mực là những mặt hàng đã hưởng lợi rõ nhất từ các ưu đãi từ thuế của EVFTA.

Năm 2020, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tới EU giảm 8,8% về lượng và giảm 6,21% về trị giá so với năm 2019, ước đạt 205,9 nghìn tấn với trị giá 947,89 triệu USD, chiếm 10,18% về lượng và chiếm 11,29% về trị giá xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Việc Anh rời khởi EU năm 2020 khiến cho thị trường EU không còn thuộc nhóm những thị trường có trị giá xuất khẩu thủy sản trên 1 tỷ USD trong năm 2020. Tuy nhiên năm 2021 thủy sản xuất khẩu của Việt Nam có nhiều cơ hội vượt qua mốc 1 tỷ USD ở thị trường EU, do các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam sẽ khai thác hiệu quả hơn Hiệp định EVFTA.

Dự báo xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tới EU trong quý I/2021 sẽ tăng trưởng tốt so với cùng kỳ năm 2020, nhờ tác động tích cực từ Hiệp định EVFTA. Dịch Covid-19 tại EU đang có diễn biến phức tạp ở nhiều quốc gia, điều này sẽ làm cho xu hướng tiêu dùng và nhập khẩu thủy sản của EU đã được định hình trước đó tiếp tục được duy trì ít nhất cho tới hết quý I/2021.

Mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam tới EU tháng 11 và 11 tháng năm 2020

Mặt hàng

Tỷ trọng năm 2020 (%)

Năm 2020 (Nghìn USD(

So với cùng kỳ năm 2019 (%)

Tháng 11

11 tháng

Tháng 11

11 tháng

Tháng 11

11 tháng

Tổng

100

100

64.177

870.150

-8,5

-6,4

Tôm các loại

56,41

54,25

36.203

472.092

-8,4

5,6

Cá ngừ các loại

11,64

13,83

7.473

120.313

-1,7

0,6

Cá tra, basa

12,67

13,22

8.130

115.019

-19,1

-31,7

Nghêu các loại

7,85

5,72

5.040

49.732

34,9

2,1

Cá đông lạnh

2,72

4,34

1.748

37.759

-40,9

-29,8

Mực các loại

3,67

3,38

2.354

29.416

37,9

-17,3

Surimi

1,3

1,04

836

9.063

62,6

-37,5

Bạch tuộc các loại

0,69

0,99

443

8.636

-64,5

-56,7

Ghẹ các loại

1,28

0,9

823

7.832

-24,6

17,3

Sò các loại

0,41

0,77

264

6.661

-6,9

28,4

Thủy sản khác

0,28

0,45

178

3.897

-58,3

-21,4

Cua các loại

0,12

0,17

75

1.441

-84,4

-13,1

Cá khô

0,13

0,14

84

1.209

217,4

146,6

Chả giò

0,05

0,06

31

564

-49,6

-5,7

Lươn

0,01

0,03

4

244

-93,6

25,6

Ốc các loại

0,12

0,03

77

228

383,7

31,3

Mặt hàng khác

0,64

0,69

413

6.043

16,9

212,9

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan    

Xuất khẩu thủy sản tới thị trường thuộc EU tháng 11 và 11 tháng năm 2020

Thị trường

Tỷ trọng năm 2020 (%)

Năm 2020 (Nghìn USD)

So với cùng kỳ năm 2019 (%)

Tháng 11

11 tháng

Tháng 11

11 tháng

Tháng 11

11 tháng

Tổng

1.842.711

-5,3

-3,8

742.185

Tổng EU

100

100

64.177

870.150

-8,5

-6,4

Hà Lan

25,6

23

16.427

200.569

22,4

2

Đức

18,4

18,9

11.801

164.285

-20,9

-5,7

Tây Ban Nha

6,4

6,8

4.116

59.279

-10,8

-18,8

Italia

9

9,3

5.791

81.238

6,3

-16,5

Bỉ

15,7

14,1

10.103

122.721

1,3

3,6

Bồ Đào Nha

4,6

4,2

2.974

36.275

-9,9

-19,6

Pháp

6,5

8,5

4.154

73.904

-44,5

-18,7

Lítva

1,7

1,7

1.061

14.897

-25,4

-5,2

Ba Lan

2,9

3,2

1.845

27.842

-3,5

19,3

Đan Mạch

3,3

4,5

2.143

39.040

-28,6

-3,3

Rumani

0,6

0,9

407

7.984

-42

28,3

Hy Lạp

0,7

0,5

451

4.529

90,6

-43,1

Thụy Điển

1,7

1,5

1.088

12.814

2,7

-4,9

Hungary

0,3

0,3

220

2.297

17,4

122,8

Síp

0,8

0,3

524

2.518

93,8

-41,6

Croatia

0,6

0,4

371

3.907

-41,2

-24,8

Látvia

0,2

0,3

129

2.298

-48,6

-2,1

Slôvenia

0,2

0,4

116

3.632

-42,3

2

Áo

0,3

0,2

173

1.950

164

14,4

Manta

0,1

0

41

318

-44,2

-61,9

Slovakia

0,1

0

37

73

Ai Len

0,3

0,5

168

4.585

-8,2

122,2

Estonia

0

0

358

Bungari

0

0,1

1.143

-100

-53,8

CH Séc

0,1

0,2

39

1.694

-86,3

-50,3

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan    

Số doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tới EU tăng sau khi EVFTA có hiệu lực

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan Việt Nam, thời điểm trước khi EVFTA có hiệu lực ngày 1/8/2020, số lượng doanh nghiệp tham gia xuất khẩu thủy sản tới EU là 370 doanh nghiệp. Trong đó số lượng doanh nghiệp tham gia xuất khẩu thủy sản tới EU hàng tháng đều ở mức dưới 200 doanh nghiệp/tháng. Sau khi EVFTA có hiệu lực, số lượng doanh nghiệp tham gia xuất khẩu thủy sản tới EU đã tăng lên mức trên 200 doanh nghiệp/tháng. Ước tính sơ bộ năm 2020, có 409 doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu thủy sản tới EU, hầu hết các doanh nghiệp này đều là những doanh nghiệp có uy tín và khả năng cung ứng tốt.

Theo phản ánh từ các doanh nghiệp, việc áp dụng các cam kết trong EVFTA trong xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là việc thực hiện các quy định giấy tờ và chứng nhận còn lúng túng. Cụ thể:

- C/O form Eur1: Còn lúng túng trong việc áp dụng trong cộng đồng doanh nghiệp và ngay trong chính nội bộ các nước thành viên EU.

- C/O lâu được cấp vì liên quan đến chứng nhận xác nhận theo quy định IUU.

- Áp dụng mã HS: Doanh nghiệp lúng túng, không biết khai mã nào/khai mã theo hiệp định không được nước nhập khẩu chấp nhận.

Tuy nhiên các cơ quan quản lý cũng đã sớm có những buổi hội thảo, hướng dẫn, hỗ trợ cùng sự linh hoạt chủ động từ phía doanh nghiệp và hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tới EU đang có những kết quả tích cực.