Tin tức tổng quan

Hiệp định EVFTA có hiệu lực: Hoạt động thương mại Việt Nam – Đức phục hồi

15/01/2021

Theo tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan, trong giai đoạn từ tháng 8⁄2020 đến tháng 11⁄2020, kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Đức đạt 3,44 tỷ USD, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm 2019. Trong khi 7 tháng đầu năm 2020, kim ngạch thương mại hai chiều giữa 2 nước giảm 7,4% so với cùng kỳ năm 2019.

Theo tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan, trong giai đoạn từ tháng 8/2020 đến tháng 11/2020, kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Đức đạt 3,44 tỷ USD, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm 2019. Trong khi 7 tháng đầu năm 2020, kim ngạch thương mại hai chiều giữa 2 nước giảm 7,4% so với cùng kỳ năm 2019.

Về xuất khẩu: Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Đức trong 4 tháng kể từ sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực vào tháng 8/2020 đạt 2,25 tỷ USD, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2019, cải thiện so với mức giảm 1,8% trong 7 tháng đầu năm 2020. Lũy kế 11 tháng năm 2020, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang Đức tăng 0,6% so với cùng kỳ năm 2019, đạt 6,05 tỷ USD.

Mặc dù Hiệp định EVFTA đã có hiệu lực được 4 tháng, nhưng do ảnh hưởng của dịch Covid-19, xuất khẩu nhiều mặt hàng của Việt Nam vẫn gặp khó khăn, chủ yếu do nhu cầu nhập khẩu hàng hóa của Đức giảm. Theo thống kê của Eurostat, nhập khẩu hàng hóa của Đức trong 10 tháng năm 2020 giảm 9% so với cùng kỳ năm 2019, đạt 843,1 tỷ Euro. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của EU từ thị trường nội khối giảm 9% và nhập khẩu từ các thị trường ngoài khối giảm 8%. Nhìn chung, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Đức theo tháng vẫn giảm so với cùng kỳ năm 2019.

Trong 4 tháng, từ tháng 8 đến tháng 11/2020, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Đức tăng chủ yếu do xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng mạnh, trong khi xuất khẩu 3 mặt hàng lớn nhất là điện thoại các loại và linh kiện; giày dép các loại; hàng dệt may vẫn giảm so với cùng kỳ năm trước.

Trong nhóm hàng nông sản, thủy sản và hạt tiêu là các mặt hàng các doanh nghiệp đã tận dụng được ưu đãi từ Hiệp định EVFTA khi xuất khẩu sang thị trường Đức trong 4 tháng qua.

Theo đó, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Đức từ tháng 8 đến tháng 11/2020 đã tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước, sau khi giảm tới 13,3% trong 7 tháng đầu năm 2020. Theo cam kết, nhiều mặt hàng thủy sản của Việt Nam được hưởng thuế suất 0% khi xuất khẩu vào thị trường EU nói chung và thị trường Đức nói riêng. Theo đó, EU đã xóa bỏ thuế quan cho sản phẩm cá ngừ tươi sống và đông lạnh cho Việt Nam ngay khi Hiệp định có hiệu lực. Riêng đối với các sản phẩm cá ngừ chế biến đóng hộp, EU miễn thuế cho Việt Nam trong mức hạn ngạch 11.500 tấn/năm. Bên cạnh đó, hầu hết các sản phẩm mực, bạch tuộc đông lạnh được giảm từ mức thuế cơ bản 6-8% về 0%; các sản phẩm khác như surimi được giảm từ 14,2% về 0%. Đối với sản phẩm tôm, tôm sú đông lạnh được giảm thuế từ mức cơ bản 20% xuống 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực. Như vậy, những mặt hàng trên của Việt Nam có lợi thế về thuế so với các nước chưa ký kết Hiệp định với EU. Tuy nhiên, mức tăng kim ngạch xuất khẩu chưa thật sự ấn tượng bởi tác động của dịch Covid-19 ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu dùng của Đức và theo Hiệp định, hàng thủy sản Việt Nam còn phải đảm bảo yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, điều kiện an toàn thực phẩm khi xuất khẩu vào thị trường này. Để được hưởng ưu đãi thuế quan, các công ty xuất khẩu thủy sản phải thực hiện tốt quy tắc xuất xứ của sản phẩm. Bên cạnh đó, cam kết trong Hiệp định làm tăng các yêu cầu về môi trường liên quan đến đánh bắt hải sản và hàng loạt cam kết tuân thủ các biện pháp bảo tồn, quản lý và khai thác bền vững nguồn lợi thủy sản.

Xuất khẩu hạt tiêu sang thị trường Đức trong 4 tháng sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực đạt mức tăng trưởng ấn tượng, tăng 41,1% so với cùng kỳ năm trước, trong khi 7 tháng đầu năm 2020, xuất khẩu hạt tiêu sang thị trường này
giảm 19,3%.

Chủng loại hàng hóa xuất khẩu sang thị trường Đức trước và sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực

Mặt hàng

Tháng 8 - 11/2020 (nghìn USD)

So với tháng 8-11/2019 (%)

7 tháng đầu năm 2020 (nghìn USD)

So với 7 tháng tháng đầu năm 2019 (%)

11 tháng năm 2020 (nghìn USD)

So với 11 tháng năm 2019 (%)

Tổng

2.254.435

5,0

3.795.671

-1,8

6.050.106

0,6

Điện thoại các loại và linh kiện

530.417

-4,4

881.097

-15,3

1.411.514

-11,5

Giày dép các loại

277.489

-18,0

505.349

-10,4

782.839

-13,2

Hàng dệt, may

250.391

-9,8

432.642

-4,2

683.033

-6,3

Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác

237.500

57,2

354.927

55,2

592.427

56,0

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

218.902

25,5

263.024

-17,1

481.926

-2,0

Cà phê

75.648

-3,8

243.545

-1,5

319.193

-2,0

Hàng thủy sản

70.074

6,9

94.211

-13,3

164.285

-5,7

Phương tiện vận tải và phụ tùng

52.724

110,9

62.340

-0,2

115.064

31,5

Túi xách, ví,vali, mũ, ô, dù

48.984

-24,9

103.428

-6,3

152.412

-13,2

Sản phẩm từ sắt thép

45.726

39,4

67.019

2,3

112.745

14,7

Sản phẩm từ chất dẻo

45.014

4,5

79.440

0,4

124.454

1,8

Hạt điều

36.911

-14,9

78.570

4,2

115.481

-2,8

Gỗ và sản phẩm gỗ

35.370

3,9

68.538

2,1

103.908

2,7

Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận

26.647

35,9

83.293

159,2

109.939

112,5

Cao su

14.120

-2,5

14.560

-37,4

28.679

-24,0

Sản phẩm mây, tre, cói và thảm

13.598

33,9

19.019

16,8

32.617

23,4

Sản phẩm từ cao su

13.028

45,4

18.935

1,4

31.963

15,7

Hạt tiêu

9.664

41,1

18.912

-19,3

28.576

-5,6

Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

9.166

18,0

13.561

-17,4

22.727

-6,0

Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày

8.783

7,3

13.417

3,1

22.199

4,7

Kim loại thường khác và sản phẩm

6.455

36,0

8.649

6,8

15.104

17,6

Sản phẩm gốm, sứ

6.356

47,0

6.138

-24,8

12.494

0,0

Hàng rau quả

5.391

-19,5

12.950

30,2

18.341

10,2

Sản phẩm hóa chất

1.763

-7,0

4.832

12,9

6.595

6,8

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm

1.757

39,8

1.065

-42,3

2.822

-9,0

Giấy và các sản phẩm từ giấy

1.180

-50,5

3.261

14,4

4.440

-15,1

Sắt thép các loại

1.166

27,7

2.499

153,2

3.665

92,9

Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện

624

-9,5

1.158

13,5

1.782

4,3

Chè

309

-33,3

338

51,3

647

-5,8

Hàng hóa khác

209.278

27,6

338.955

25,9

548.234

26,5

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan

Về nhập khẩu: Trong 4 tháng sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ Đức cũng tăng trở lại, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm 2019, sau khi giảm 17,1% trong 7 tháng đầu năm 2020.

Trong đó, các mặt hàng nhập khẩu tăng chủ yếu vẫn là các mặt hàng cần nhập khẩu như: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác; Dược phẩm; Hóa chất... Nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng như: Chế phẩm thực phẩm khác; chất thơm, mỹ phẩm và chế phẩm vệ sinh; Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc vẫn giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2019. Như vậy, nhập khẩu hàng hóa từ Đức tăng chủ yếu do nhu cầu đầu tư máy móc, thiết bị và nhu cầu nguyên liệu sản xuất của doanh nghiệp tăng.

Chủng loại hàng hóa nhập khẩu từ thị trường Đức trước và sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực

Mặt hàng

Tháng 8 - 11/2020 (nghìn USD)

So với tháng 8-11/2019 (%)

7 tháng đầu năm 2020 (nghìn USD)

So với 7 tháng đầu năm 2019 (%)

11 tháng năm 2020 (nghìn USD)

So với 11 tháng năm 2019 (%)

Tổng

1.187.974

4,1

1.844.487

-17,1

3.032.461

-9,9

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác

566.370

12,7

811.481

-24,2

1.377.850

-12,4

Dược phẩm

128.480

27,8

228.211

21,0

356.691

23,4

Sản phẩm hóa chất

63.796

-6,4

116.202

2,0

179.998

-1,2

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

36.882

50,5

32.171

-32,7

69.054

-4,5

Chất dẻo nguyên liệu

34.350

-29,5

74.932

2,6

109.282

-10,2

Hóa chất

29.114

22,2

44.507

3,6

73.621

10,3

Phương tiện vận tải khác và phụ tùng

28.504

164,7

21.397

-34,9

49.901

14,4

Sản phẩm từ sắt thép

27.121

11,0

37.566

-10,7

64.687

-2,7

Sản phẩm từ chất dẻo

22.179

-2,9

41.819

-9,2

63.998

-7,1

Gỗ và sản phẩm gỗ

17.052

-15,1

28.511

-35,7

45.563

-29,2

Thuốc trừ sâu và nguyên liệu

16.242

81,1

30.232

9,7

46.474

27,3

Ô tô nguyên chiếc các loại

15.292

-48,9

34.876

-39,3

50.168

-42,6

Sữa và sản phẩm sữa

14.608

-10,8

23.677

-12,8

38.285

-12,0

Sắt thép các loại

10.055

-26,3

12.939

-59,2

22.994

-49,3

Linh kiện, phụ tùng ô tô

9.703

-80,3

38.724

-59,3

48.427

-66,5

Dây điện và dây cáp điện

9.264

150,2

6.203

13,3

15.467

68,5

Vải các loại

8.851

7,5

18.703

-13,5

27.554

-7,7

Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày

8.766

-36,3

20.874

-24,0

29.640

-28,1

Sản phẩm từ cao su

8.094

-3,2

12.057

-10,2

20.151

-7,5

Sản phẩm từ kim loại thường khác

5.341

-27,8

8.263

8,9

13.604

-9,2

Chế phẩm thực phẩm khác

4.599

-25,7

8.442

3,8

13.041

-9,0

Kim loại thường khác

4.551

-7,7

5.796

-24,0

10.347

-17,6

Chất thơm, mỹ phẩm và chế phẩm vệ sinh

4.028

-20,0

6.544

-7,5

10.573

-12,7

Sản phẩm khác từ dầu mỏ

3.556

-2,3

6.218

-1,0

9.774

-1,4

Phân bón các loại

3.457

5,9

8.795

132,4

12.251

73,9

Giấy các loại

3.402

-22,6

5.535

-46,4

8.937

-39,3

Cao su

2.956

14,6

3.927

-14,2

6.882

-3,8

Thức ăn gia súc và nguyên liệu

2.700

-18,5

6.344

5,7

9.044

-2,9

Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

2.563

-33,7

2.381

-24,4

4.944

-29,5

Sản phẩm từ giấy

1.871

-25,0

4.042

7,6

5.914

-5,4

Nguyên phụ liệu dược phẩm

1.318

-43,8

5.895

-24,7

7.213

-29,1

Quặng và khoáng sản khác

956

-9,3

2.481

-23,9

3.437

-20,4

Nguyên phụ liệu thuốc lá

138

87,1

176

130,5

314

109,2

Hàng hóa khác

91.815

0,4

134.566

-0,4

226.380

-0,1

Nguồn: