Tin tức tổng quan

Hiệp định EVFTA đã có tác động tích cực đến hoạt động thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và EU27

14/01/2021

Theo tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan, trong 4 tháng sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực (từ tháng 8⁄2020 đến tháng 11⁄2020), kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – EU đạt 17,83 tỷ USD, tăng 2,9%, đã có cải thiện so với mức giảm 3,4% trong 7 tháng đầu năm 2020. Tuy nhiên, tính chung 11 tháng năm 2020, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – EU vẫn giảm 1%, đạt 45,3 tỷ USD. Như vậy, Hiệp định EVFTA có hiệu lực đã có tác động tích cực đến quan hệ thương mại giữa Việt Nam và EU27. Tuy nhiên, do tác động của dịch Covid-19, mức độ tác động của Hiệp định đến quan hệ thương mại giữa hai nước vẫn chưa rõ nét, đặc biệt là với chiều xuất khẩu từ Việt Nam sang EU27, sau 3 tháng tăng trưởng khả quan, tháng 11⁄2020 kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và EU đã giảm trở lại.

Theo tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan, trong 4 tháng sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực (từ tháng 8/2020 đến tháng 11/2020), kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – EU đạt 17,83 tỷ USD, tăng 2,9%, đã có cải thiện so với mức giảm 3,4% trong 7 tháng đầu năm 2020. Tuy nhiên, tính chung 11 tháng năm 2020, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – EU vẫn giảm 1%, đạt 45,3 tỷ USD. Như vậy, Hiệp định EVFTA có hiệu lực đã có tác động tích cực đến quan hệ thương mại giữa Việt Nam và EU27. Tuy nhiên, do tác động của dịch Covid-19, mức độ tác động của Hiệp định đến quan hệ thương mại giữa hai nước vẫn chưa rõ nét, đặc biệt là với chiều xuất khẩu từ Việt Nam sang EU27, sau 3 tháng tăng trưởng khả quan, tháng 11/2020 kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và EU đã giảm trở lại.

Về xuất khẩu: Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 4 tháng sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực (từ tháng 8 đến tháng 11/2020), kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang EU đạt 12,4 tỷ USD, tăng 1% so với cùng kỳ năm trước; trong khi 7 tháng đầu năm kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang EU27 đạt 19,5 tỷ USD, giảm 5,9% so với cùng kỳ năm 2019.

Trong 4 tháng sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang thị trường EU27 tăng do xuất khẩu nhiều mặt hàng tăng trưởng khả quan so với trước khi EVFTA có hiệu lực. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện trong 4 tháng sau khi Hiệp định có hiệu lực tăng 47,4% so với cùng kỳ năm 2019, tăng mạnh hơn so với mức tăng 15,3% trong 7 tháng đầu năm 2020; xuất khẩu hàng thủy sản tăng 8,7% so với mức giảm 15,6%; xuất khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 24,7% so với mức giảm 16,4%... Tuy nhiên, mức tăng bị hạn chế do nhiều mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm, thậm chí mức giảm mạnh hơn trước khi Hiệp định có hiệu lực. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng tiêu dùng như dệt may, giày dép, vali, túi xách, mũ, ô dù vẫn giảm so với cùng kỳ năm 2019. Xuất khẩu nhóm hàng này giảm chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng tại thị trường EU giảm do tác động của dịch Covid-19. Xuất khẩu hàng dệt may có xu hướng giảm chậm lại, chỉ giảm 7,2% trong 4 tháng sau khi EVFTA có hiệu lực so với mức giảm 15,3% trong 7 tháng đầu năm 2020.

Mặt hàng xuất khẩu sang thị trường EU thời gian trước và sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực

Mặt hàng

Tháng 8 - 11/2020 (Nghìn USD)

So với tháng 8 - 11/2019 (%)

7 tháng đầu năm 2020 (Nghìn USD)

So với 7 tháng năm 2019 (%)

11 tháng năm 2020 (Nghìn USD)

So với 11 tháng năm 2019 (%)

Điện thoại các loại và linh kiện

3.086.475

-17,3

4.945.958

-18,1

8.032.433

-17,8

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

2.358.558

47,4

2.799.627

15,3

5.158.185

28,1

Giày dép các loại

1.202.818

-15,8

2.158.793

-14,6

3.361.611

-15,1

Hàng dệt, may

1.130.076

-7,0

1.686.155

-16,0

2.816.331

-12,6

Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác

996.294

23,9

1.487.279

25,3

2.483.573

24,7

Cà phê

234.850

-13,5

675.923

-3,5

910.772

-6,3

Hàng thủy sản

369.986

8,7

500.164

-15,6

870.150

-6,4

Túi xách, ví,vali, mũ, ô, dù

204.111

-27,3

443.461

-11

647.572

-16,9

Hạt điều

215.034

-9,5

402.366

14,2

617.400

4,6

Phương tiện vận tải và phụ tùng

242.255

24,7

368.984

-16,4

611.240

-3,8

Sản phẩm từ sắt thép

161.401

3,6

286.083

-1,1

447.484

0,5

Gỗ và sản phẩm gỗ

149.608

-7,1

277.337

-7,8

426.945

-7,6

Sản phẩm từ chất dẻo

155.346

3,5

257.681

-8,4

413.027

-4,2

Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận

108.605

16,3

221.697

94,6

330.302

59,3

Sắt thép các loại

73.273

16,2

90.642

-34,9

163.914

-19,0

Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày

51.400

-25,3

104.128

-6,2

155.528

-13,5

Sản phẩm mây, tre, cói và thảm

52.794

40,4

75.854

6,3

128.648

18,1

Hàng rau quả

45.890

4,9

82.591

-0,3

128.480

1,5

Sản phẩm từ cao su

45.543

50,8

66.145

26,9

111.688

35,7

Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

36.345

-4,6

57.966

-0,1

94.311

-1,8

Cao su

37.924

1,2

39.968

-28,9

77.893

-16,9

Hạt tiêu

25.409

11,6

51.281

-11,7

76.690

-5,2

Sản phẩm gốm, sứ

25.438

6,9

32.651

1

58.089

3,5

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm

28.433

30,8

26.673

5,5

55.106

17,2

Hóa chất

11.739

5,5

36.031

43,9

47.770

32,1

Chất dẻo nguyên liệu

14.290

289,9

14.286

-5,1

28.576

52,6

Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện

12.687

18,3

14.878

-16,6

27.565

-3,5

Sản phẩm nội thất từ chất liệu khác gỗ

8.854

-3,9

18.083

-23,3

26.937

-17,8

Xơ, sợi dệt các loại

12.570

1,3

13.630

-38,7

26.200

-24,4

Kim loại thường khác và sản phẩm

8.929

23,8

15.077

15,2

24.006

18,3

Vải mành, vải kỹ thuật khác

7.720

-9,1

7.816

-60,1

15.536

-44,6

Sản phẩm hóa chất

5.065

53,3

9.308

22,4

14.373

31,7

Gạo

4.315

5,7

7.644

35,4

11.959

23,0

Dây điện và dây cáp điện

3.554

-1,7

6.035

-22,4

9.589

-15,8

Giấy và các sản phẩm từ giấy

1.180

-50,5

3.261

14,4

4.440

-15,1

Chè

625

1,2

546

-27,4

1.171

-14,5

Hàng hóa khác

1.279.830

10,3

2.230.479

3,8

3.510.210

6,1

Tổng

12.406.973

1,0

19.516.480

-5,9

31.923.453

-3,3

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan

Do tình hình dịch bệnh tại EU vẫn diễn biến phức tạp, sau khi áp dụng các biện pháp phòng dịch nghiêm ngặt trong giai đoạn dịch Covid-19 bùng phát đầu năm, nhiều nước đã phải tái áp dụng các biện pháp phòng dịch trong các tháng cuối năm 2020, làm ảnh hưởng đến tình hình kinh tế khu vực và nhu cầu tiêu dùng hàng hóa của người dân, khiến kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của tất cả các nước trong khu vực đều giảm so với cùng kỳ năm 2019, đặc biệt là mức giảm nhập khẩu từ thị trường ngoài khối giảm mạnh hơn nhập khẩu từ thị trường nội khối. Trong bối cảnh nhu cầu nhập khẩu hàng hóa của tất cả các nước trong khu vực EU27 đều giảm so với cùng kỳ năm 2019, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam EU vẫn tăng so với cùng kỳ năm 2019 cho thấy hàng hóa Việt Nam đã tạo dựng được chỗ đứng nhất định tại thị trường EU và Hiệp định EVFTA cũng đã phát huy tác dụng khi tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa sau khi Hiệp định có hiệu lực cao hơn so với trước đó. Tuy nhiên, dịch Covid-19 khiến mức độ tác động của Hiệp định EVFTA đến tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang EU bị hạn chế khi xuất khẩu nhiều mặt hàng được kỳ vọng sẽ hưởng lợi từ Hiệp định không tăng mạnh, thậm chí giảm do nhu cầu nhập khẩu của EU giảm như: gạo, hàng dệt may, giày dép các loại, gỗ và sản phẩm gỗ…

Năm 2021, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang EU dự báo sẽ tăng trưởng khả quan hơn nhờ Hiệp định EVFTA và kinh tế EU được dự báo sẽ hồi phục trở lại, mặc dù mức hồi phục chậm. Trong dự báo mới nhất, EC dự báo kinh tế EU sẽ tăng 4,1% trong năm 2021, sau khi giảm 7,4% trong năm 2020. Làn sóng đóng cửa thứ 2 để phòng ngừa dịch Covid-19 đã tác động mạnh đến các doanh nghiệp trên khắp châu Âu, khiến Ủy ban châu Âu hạ dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2021 của khu vực và dự kiến ​​sẽ mất hai năm cho đến khi kinh tế châu Âu có thể trở lại mức trước đại dịch. Tuy nhiên, do xuất khẩu nhiều mặt hàng của Việt Nam trong giai đoạn đại dịch Covid-19 đã giảm rất mạnh nên nhiều khả năng sẽ phục hồi trong năm 2021 như: hàng dệt may, giày dép, vali, túi xách, mũ, ô dù. Trong khi đó, xuất khẩu các mặt hàng nông sản như: thủy sản, gạo, cà phê, hạt tiêu, chè… tiếp tục tăng, nhưng mức tăng không mạnh do các mặt hàng này còn gặp nhiều rào cản phi thuế quan tại thị trường EU, đặc biệt là vấn đề “Thẻ vàng” đối hàng thủy sản, các yêu cầu về chất lượng sản phẩm nông sản…

Về nhập khẩu: Theo tính toán từ số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 4 tháng sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ thị trường EU27 đạt 5,06 tỷ USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm 2019, cao hơn so với mức tăng 3% trong 7 tháng đầu năm 2020 (trước khi Hiệp định có hiệu lực). Tính chung 11 tháng năm 2020, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa từ thị trường EU27 đạt 13,14 tỷ USD, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm 2019.

Trong 4 tháng sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, nhập khẩu một số mặt hàng từ thị trường EU27 tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2019 như: Thức ăn gia súc và nguyên liệu; sản phẩm từ sắt thép; chế phẩm thực phẩm khác; thuốc trừ sâu và nguyên liệu; kim loại thường. Trong khi nhập khẩu nhiều mặt hàng vẫn giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2019.

Nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện từ thị trường EU27 vẫn tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2019, nhưng tốc độ tăng trưởng trong 4 tháng sau khi có hiệu lực chậm lại so với 7 tháng đầu năm 2020, chủ yếu do các doanh nghiệp đã đẩy mạnh nhập khẩu mặt hàng từ thị trường này kể từ cuối năm 2019.

Nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng từ thị trường EU27 mặc dù vẫn giảm, nhưng mức giảm đã chậm lại. Theo đó, trong 4 tháng sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, kim ngạch nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng từ EU27 giảm 8,3%, thấp hơn so với mức giảm 19,4% trong 7 tháng đầu năm 2020.

Mặt hàng nhập khẩu từ thị trường EU trước và sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực

Thị trường

Tháng 8 - 11/2020 (Nghìn USD)

So với tháng 8 - 11/2019 (%)

7 tháng đầu năm 2020 (Nghìn USD)

So với 7 tháng năm 2019 (%)

11 tháng năm 2020 (Nghìn USD)

So với 11 tháng năm 2019 (%)

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

1.486.453

42,7

2.154.971

97,3

3.641.425

70,7

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác

1.073.868

-8,3

1.692.120

-19,4

2.765.988

-15,4

Dược phẩm

562.759

19,1

1.020.567

13,5

1.583.327

15,4

Sản phẩm hóa chất

154.153

-10,2

301.200

4,3

455.352

-1,1

Thức ăn gia súc và nguyên liệu

106.261

27,2

148.842

-5,9

255.103

5,5

Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày

87.151

-22,3

153.697

-36,7

240.849

-32,1

Chất dẻo nguyên liệu

64.408

-16,8

125.039

-6,1

189.447

-10,1

Sữa và sản phẩm sữa

52.013

-37,3

126.794

18,5

178.807

-5,9

Sản phẩm từ sắt thép

72.451

18

106.098

1,2

178.549

7,4

Hóa chất

57.032

-6

105.439

-8,9

162.471

-7,9

Gỗ và sản phẩm gỗ

52.815

-6,3

93.040

-25,4

145.855

-19,4

Phương tiện vận tải khác và phụ tùng

47.790

-28,1

76.984

-44,4

124.773

-39,1

Vải các loại

40.261

-7,5

79.962

-20,6

120.223

-16,7

Sản phẩm từ chất dẻo

41.685

-3

75.107

-8,5

116.792

-6,6

Linh kiện, phụ tùng ô tô

27.516

-61,4

72.466

-45

99.982

-50,7

Sắt thép các loại

31.941

-40,8

49.987

-55,2

81.928

-50,5

Giấy các loại

21.732

-22,9

47.581

12,8

69.313

-1,5

Chế phẩm thực phẩm khác

27.072

35,3

41.043

16,8

68.115

23,5

Chất thơm, mỹ phẩm và chế phẩm vệ sinh

25.289

-2,6

37.965

-12,9

63.254

-9

Thuốc trừ sâu và nguyên liệu

23.185

20,1

39.673

-3,1

62.858

4,3

Ô tô nguyên chiếc các loại

15.727

-52,3

35.744

-39,6

51.471

-44,2

Đá quý, kim loại quý và sản phẩm

12.101

-56,9

31.495

-30,2

43.596

-40,5

Kim loại thường khác

23.736

61

19.389

-21,2

43.126

9,6

Phân bón các loại

14.329

37,6

22.340

39,6

36.669

38,8

Sản phẩm từ cao su

12.750

-6,7

20.713

-12,9

33.463

-10,6

Hàng thủy sản

11.307

22,9

21.355

12,7

32.662

16,1

Nguyên phụ liệu dược phẩm

9.626

-17,7

22.071

-20,9

31.697

-20

Dây điện và dây cáp điện

11.866

88,5

18.286

-16,2

30.151

7,3

Xơ, sợi dệt các loại

10.310

42

15.308

93,1

25.618

68,7

Cao su

8.325

-1,9

13.737

-9,3

22.062

-6,7

Sản phẩm khác từ dầu mỏ

8.487

-14,3

12.423

-22,5

20.910

-19,4

Sản phẩm từ kim loại thường khác

5.341

-27,8

8.263

8,9

13.604

-9,2

Hàng điện gia dụng và linh kiện

4.814

-31,5

7.636

-45,8

12.450

-41

Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

4.309

-38

6.745

-10,5

11.054

-23,7

Quặng và khoáng sản khác

1.587

24,8

4.517

33,3

6.104

31

Nguyên phụ liệu thuốc lá

2.737

26,1

3.342

18,8

6.079

22

Sản phẩm từ giấy

1.871

-25

4.042

7,6

5.914

-5,4

Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh

1.386

-16,3

1.241

-81,5

2.626

-68,6

Phế liệu sắt thép

296

-70,7

272

-98,3

567

-96,6

Điện thoại các loại và linh kiện

75

-78,3

54

-67,1

129

-74,7

Hàng hóa khác

845.467

3,4

1.265.939

-10,9

2.111.406

-5,7

Tổng

5.062.283

6,3

8.083.486

3

13.145.769

4,2

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ EU trong năm 2020 tăng mạnh hơn so với mức tăng kim ngạch xuất khẩu chủ yếu do nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện từ thị trường Ai Len tăng mạnh. Các tháng cuối năm 2020, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu nhóm hàng này đã có xu hướng chậm lại và dự báo sẽ tiếp tục chậm lại trong năm 2021. Trong khi đó, xu hướng tăng nhập khẩu các mặt hàng dược phẩm, thức ăn gia súc và nguyên liệu, thuốc trừ sâu và nguyên liệu, phân bón các loại nhiều khả năng sẽ tiếp diễn trong năm 2021.

Sau khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, xu hướng tăng nhập khẩu các mặt hàng thực phẩm tiêu dùng như: hàng thủy sản, chế phẩm thực phẩm khác rõ nét hơn, trong khi nhập khẩu chất thơm, mỹ phẩm và chế phẩm vệ sinh giảm chậm lại cho thấy các doanh nghiệp đã bắt đầu tận dụng ưu đãi của Hiệp định để tăng nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng từ thị trường này. Tuy nhiên, nhập khẩu nhóm hàng này chủ yếu để phục vụ một bộ phận người tiêu dùng có thu nhập cao và nhu cầu tiêu dùng dịp Lễ Tết cuối năm, do đó, xu hướng này khó có thể kéo dài sang năm 2021.